Chi tiết tin - Du khách
Bài chòi
Người ta dùng bộ bài ’’tới’’ gồm 30 con bài có tên:
1. Nhứt trò: 2. Thái tử; 3. Trạng hai; 4. Trạng ba, 5. Ông Âm; 6. Xe; 7. Gối; 8. Bát bồng; 9. Gà; 10. Sáu dây; 11.Tám dây; 12. Sáu tiền; 13. Tám tiền: 14. Nọc; 15. Lá liễu; 16. Bạch tuyết; 17. Cửu sại; 18. Đấu; 19. Con quăng; 20. Nhọn mõ; 21. Lục chôm; 22. Thẳng cẳng; 23. Đỏ mỏ; 24. Con giống; 25. Con sưa; 26. Con Dày; 27. Con nghèo; 28. Con Rún; 29. Con voi; 30. Ngủ trưa, chia cho 10 chòi, mỗi chòi 3 con, mỗi bài dán vào một thẻ tre.
Ở chòi cái cũng có một bộ bài giống như vậy, đựng trong ống tre, găm trên một cái cọc cao quá đầu người hô bài.
Bài chòi là một trò chơi văn nghệ. Trước khi rút một con bài ở ống, người cái hô bài hát lên một câu hát gì đó, hoặc nói vè hay hò khoan, rồi đưa tay lên ống rút một con trong 30 con bài ra, tiếp tục hát và hô to tên con bài lên:
- Bà con lẳng lặng mà nghe nàyỊ Đầu năm con chi đi chợ này!
Mừng xuân đi chợ đầu năm
Tám tiền làm tuổi an khang thọ trường...
Ơ hò...là con tám tiền...
Nói chung, cứ một con bài bắt lên là có một câu hò, câu hát ứng với nội dung, hoặc nghĩa thực hoặc nghĩa bóng của tên con bài, làm cho người chơi bài hồi hộp hứng thú.
Mỗi khi con bài cái hô lên nhằm vào chòi nào thì chòi ấy gõ 3 tiếng mõ. Người chạy cờ sẽ mang đến cho chòi ấy một lá cờ xéo cầm tay. Cờ làm bằng giấy đỏ nhỏ khoảng 20cm. Chòi nào có 3 cờ xéo thì đánh một hồi mõ dài, báo hiệu là "tới’’ xem như xong một ván. Một hội chơi 8 ván. Ai tới một ván thì được đổi 3 cờ xéo lấy một cờ vuông. Trong một ván cờ được thưởng một hiện vật giá trị bằng số tiền mua vé của một chòi. Cứ 3 cờ vuông liên tục, liên tục có nghĩa 3 cờ liền nhau, không ngắt quãng thì được thưởng thêm một phần thưởng đặc biệt về văn học, ví dụ như một câu đối, một chữ đại hoành phi như phúc, lộc, thọ, hoặc đại cát, đại lợi, đại hỷ v.v... Thường chòi nào tới một ván, người chòi đó đều reo hò, đốt pháo và trống kèn, đàn địch ở chòi cái (chòi chỉ huy) nỗi lên inh ỏi, người hô bài lại trổ tài ca hát, nói lối, chào mừng.
Theo lệ, 10 chòi, nhưng chỉ chơi 8 ván và chỉ được thưởng 8 phần còn hai phần chi vào tổ chức, nếu thừa, sung vào quỹ địa phương hay đoàn thể.
Bài chòi lôi cuốn người xem nhiều hơn người chơi, đặc biệt là lôi kéo những ’’thầy hò’’, những nghệ nhân trong vùng tụ tập tới tham gia để hò hát, và để thi tài hò hát với nhau, nên người xem rất đông.
Một ý nghĩa về dịch học nữa cũng lôi cuốn nhân dân không kém. Đó là việc đánh số thập can ở các chòi. Bắt đầu từ chòi giáp là chòi số 1 đến chòi quý là chòi số 10 (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỉ, canh, tân, nhâm, quý). Người chơi bài chòi đầu năm cũng mang trong mình ý nguyện muốn xem thời vận mình năm đó làm ăn thế nào nên phải chọn cái chòi nào trong thập can hợp tuổi với mình. Nếu đến nơi mà đã hết chỗ thì đợi hội sau, hoặc lên ngồi chơi với người có chòi hợp tuổi hợp mạng mình.
Sở dĩ người xưa không đánh số chòi bằng tập nhị chi là trong số 12 con vật tượng trưng cho tuổi tác người, có những con không được hoan nghênh trong dịp tết đầu năm. Ví dụ như có những chòi dù là mang tên sửu, tị, hợi, thân, tuất... thì dân gian cũng hình dung ra đó là cái chòi trâu, chòi rắn, chòi lợn, chòi khỉ, chòi chó...nhất định không ai dám chọn để ngồi chơi buổi đầu năm.
Bài chòi đông vui nhất nhờ ở sự biểu diễn văn nghệ của người cái hô bài. Những câu thơ, câu hò chúc tết, những dàn nhạc đệm khi chơi, cũng như cách trang trí các chòi, nào cờ, nào hoa, nào câu đối, nào bảng treo tên chòi (giáp, ất..) từ màu sắc đến nét bút, đều hợp lại một phong cách văn hóa thanh lịch, tao nhã, lôi cuốn mọi người.
Một tính chất dân gian khác, biểu thị tính đoàn kết, tập thể của bài chòi là: một chòi có thể ngồi năm, bảy người! Cho nên, chơi xuân mà chơi cả gia đình một lúc, cả bạn bè, hàng xóm một lúc thì chỉ có bài chòi là thích hợp nhất. Mua vé một cái chòi, có thể ngồi cả cha mẹ, con cái, nhất là trẻ nhỏ, cho trẻ cầm bài để cha mẹ dò, nghe, rồi bảo con đánh mõ, đốt pháo, phất cờ...nó thú biết bao, nó vui nhộn vô cùng. Qua một hội bài chòi, nếu gặp ’’hên’’ trúng chòi hợp tuổi hợp mạng mà có cờ xéo, cờ vuông... thì cuộc chơi xuân đã làm con người thêm tin tưởng vào cuộc sống, cách ly được mọi ưu phiền!
Lại một lần ’’tới’’, từ chòi trung tâm của Ban tổ chức, có người đội mâm đồng, trên mâm là một phần thưởng đậy khăn điều, bưng tới tận chòi kèm theo một khúc hát, một lời hò chúc tụng càng làm trò chơi thêm trang trọng ’’lễ nghĩa’’ chứ không phải ’’ăn thua’’ thô bạo!
Người ta đặt lời vận động chơi bài chòi như sau:
Đầu năm bói toán đâu xa
Bài chòi một hội biết là rủi may!...
Rõ ràng, người xưa dùng trò chơi ’’văn hóa’’ để đấu tranh bài trừ ’’khéo’’ mê tín bói toán. Cho nên, những nơi nổi tiếng là ’’nếp đất văn chương’’ đều có kiểu cách chơi bài chòi rất đẹp, đúng nghĩa văn học của cái đẹp.
Bài chòi, một trò chơi lành mạnh, có tính văn hóa dân tộc, xin các nhà văn hóa quê nhà phục hồi lại trò chơi này, mang lại niềm vui trong cuộc sống.
English



