Quảng xá - Làng ca Huế

15:59, Thứ Năm, 14-8-2008

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Ai về huyện Quảng Ninh, khi nhắc đến làng Thầy, làng Ca Huế, làng vui chơi, làng ca hát đều không quên nhắc tới Quảng Xá.

Trong diễn ca về làng quê, ông Nguyễn Hoạt người con của Quảng Xá đã viết:

Làng Quảng Xá làng trù mật
Và phong lưu văn vật ai tày

Khi mới hình thành vùng đất làng, trước tiên là hai cha con họ Dương và hai anh em họ Nguyễn, sau nữa mới có người họ Trần đến cùng lập nghiệp. Tên mới lúc đầu được gọi là Kẻ Đờng, Kẻ là cách gọi phổ biến của những vùng cư dân mới chưa có làng, còn Đờng như người xưa nói lại, đó là đờn (gọi chệch đi do kị húy) trong đờn, ca, xướng, hát. Dân thời ấy lập cư ở gần phía Tây Bắc Hạc Hải thuộc trấn Tân Bình, huyện Khang Lộc, tỉnh Thuận Hóa. Đây là vùng đất rộng, phì nhiêu cho nghề trồng lúa nước và săn bắn chim trời cá nước. Do sự biến động lịch sử nên lúc đầu người kẻ Đờng còn rất ít, họ từ Bắc Ninh, Thanh Hóa vào theo Nguyễn Hoàng mở rộng vùng phía Nam. Sau lại theo quân Tây Sơn tiến ra Bắc đánh Chúa Trịnh, thắng lợi rồi thì trở lại quê cũ, một số người ở hai quê gốc cùng vào khai phá mở rộng, sinh cơ lập nghiệp vùng đất mới. Khi dân đã phát triển dần lên, từ năm 1811 Kẻ Đờng lập thành ấp Đặng Xá, buổi đầu hình thành dưới dạng hình chính cấp thấp.

Họ Dương, Họ Nguyễn phát huy truyền thống nơi chôn rau cắt rốn, có nhiều người giỏi giang, học hành đỗ đạt và được bổ làm quan. Vì biết chuộng kinh sử nên cùng dắt díu cháu con theo đạo học bước tiếp con đường của cha ông xưa. Làng đã phát triển nhiều nghề với ’’Gái canh cửi, trai sách đèn/ Góp vào bách nghệ ghi tên bảng vàng’’. Khi làng đã có đủ ba ông họ: Họ Dương, Họ Nguyễn, Họ Trần khai mở dòng họ mình rồi tạo mối thông gia, cùng nhau đưa mọi mặt xã hội, kinh tế phát triển, xây dựng những tập quán xóm làng tốt đẹp. Đến năm Nhâm Tuất vua Gia Long ứng dụ lập triều đã phong Sắc thần cho cả ba Họ ấp Đặng Xá và được đổi tên thành làng Quảng Xá thuộc huyện Phong Lộc tỉnh Quảng Bình, chuyển về chỗ ở mới từ đó đến ngày nay.

Để có bộ mặt mới cho làng, người của ba họ cùng vào Huế tìm thầy Địa lý giỏi về xem đất, điều chỉnh vị trí đúng hướng nhằm tới sự phát đạt, ă, ở, đường làng, đường trôổng, dò đào giếng nước, lập đình, điện, chùa, miếu và bày cách cúng tế thờ phụng.

Làng có con đường lướt đá liếp thẳng tắp dài gần 1 km có tên gọi là đường quan và 13 con đường ngang gọi là trôổng cũng lướt toàn đá liếp chạy dài từ Tây sang Đông nối với con đường đập ra tới cánh đồng rộng bát ngát. Thời ấy, Quảng Xá là làng có hệ thống giao thông bốn mùa sạch sẽ, thuận lợi, tiếng vang đồn đại khắp vùng trong Nam ngoài Bắc. Nét đẹp văn hóa của làng, phong tục cổ truyền tiêu biểu của làng cũng vang tiếng tốt từ đây.

Ngoài đường trong làng phong quang, đẹp đẽ, phía ngoài làng cũng có bảy con đường lớn chạy dài giữa cánh đồng để phục vụ việc đồng áng, đi lại, vận chuyển sản phẩm thu hoạch từ đồng về nhà thuận lợi. Làng biết dùng nước giếng xây đá từ sớm như giếng làng, giếng xóm, giếng họ, giếng đền, có hồ chứa nước ngọt để uống quanh năm tên gọi là Hồ Sao Sa theo truyền thuyết bốn mùa không vơi cạn.

Đền, miếu, đình trong làng thờ đến 73 vị Tiên Hiền như đền Bà Giàng, Bà Thủy, Bà Hỏa, Điện thờ Đức Khổng Tử, Miếu thờ Hai Bà Trưng, thờ Trần Hưng Đạo... mỗi đền, miếu đều có cắt cử người thờ phụng canh giữ. Có ruộng hương hỏa dành riêng cho đền, miếu để ông Từ cày cấy lấy hoa lợi thu được lo các việc hương đèn, cúng tế, giỗ kị hàng năm.

Thời đại nào người dân Quảng Xá cũng đều có ý thức phò Vua, cứu nước, theo Nguyễn Hoàng vào Nam, theo Nguyễn Huệ đánh Chúa Trịnh, theo nhà Nguyễn an cư lập ấp, cùng các Văn thân theo vua Hàm Nghi hưởng ứng phong trào Cần Vương. Bởi vậy, dân làng Quảng Xá luôn muốn tạo cho mình cuộc sống ít xáo động, cầu mong sự an vui.

Theo Đinh điền hạ mục năm Kỷ Mão (1879) làng đã có 108 dân đinh với 204 mẫu ruộng không kể huyền vũ, gia cư, nghĩa địa, từ đường, hương hỏa. Dân làng vẫn ’’Dĩ nông vi bổn’’ và có thêm nghề dệt vải nên cuộc sống rất sung túc đầy đủ. Do nhu cầu của dân, làng có rất nhiều nghề đã hình thành như thợ rèn, thợ mộc, thợ đóng cối xay, thợ chạm, thợ may, thợ làm đồ mã, thầy phù thủy, thầy địa... Mặc dù có nhiều năm phát sinh bệnh trời nguy hiểm, thiếu thốn, đói kém nhưng Quảng Xá vẫn nhiều người đi học, đi làm việc đây đó. Dù hoàn cảnh nào thì người Quảng Xá vẫn giữ bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của quê hương mình. Năm 1930, ông Nguyễn Hầu đã tự bỏ tiền xây dựng trường học để xin nhà nước được rước thầy về dạy cho con em nên làng sớm không có ai thất học.
Điều đáng ghi nhận là người Quảng Xá dù thời kỳ nào, hoàn cảnh nào phong trào văn nghệ ca hát cũng phát triển mạnh. Làng Quảng Xá vốn từ sớm có vị quan lớn phục vụ trong triều Nguyễn lại yêu thích các làn điệu dân ca, múa hát trong cung đình nên về làng tuyển con cháu những ai có năng khiếu vào Huế tiếp thu các làn điệu dân ca, dân vũ và học các loại đàn dân tộc để về phổ biến lại cho con em trong làng. Từ đó Quảng Xá thành làng mê say Ca Huế rất sớm. Những người mà cho đến ngày nay con cháu trong làng vẫn còn nhắc nhở đó là ông Bát Vời hay còn gọi là ông Nguyễn Tuân, ông Khóa Tham còn gọi là ông Nguyễn Lái, ông Nguyễn Hoạt, ông Viên Ghẻ, ông Ấm Sung, ông Viên Trống, ông Cửu Châu, ông Cửu Soai, ông Cửu Hai, ông Thông Chữ... thế hệ tiếp đó có ông Nguyễn Mại, ông Nguyễn Khăng, Cô Hường, Cô Chăng, Cô Sông, Cô Lởi... Hiện nay thế hệ nối tiếp là Bác Tư, Bác Xám, Cô Choanh, Cô Chuyện, Cô Vân, Cô Giếm, Thầy Tô, Thầy Trung, Thầy Nguyệt, Thầy Tiến... họ đã sớm tiếp thu các loại nhạc cụ như đàn bầu, đàn nhị, đàn nguyệt, sáo trúc và nhiều loại trống, sanh tiền... hát thành thạo các làn điệu dân ca Kim tiền, Lưu thủy, Nam ai, Nam bằng, Tương tư khúc và các điệu lý cũng như các điệu dân vũ chèo cạn, múa bông, ghép chữ, múa long, li, quy, phụng hàng trăm người tham gia khi có lễ hội hàng năm được tổ chức.

Vào các dịp xuân thu nhị kỳ dàn nhạc cổ truyền vẫn thường biểu diễn cho con cháu dân làng cùng nghe. Cô Choanh cũng đã tổ chức CLB Ca Huế thu hút nhiều người tham gia hát, tập luyện sôi nổi như là một việc truyền dạy có ý thức. Chưa nơi nào văn nghệ quần chúng lại được phát huy cao như ở Quảng Xá. Người biểu diễn và khán giả cũng chính là họ, phong trào Ca Huế luôn gắn với hoạt động của làng. Khi tổ chức lễ hội, các tiết mục đều rất phong phú. Những tác giả mới như Bác Tư, Bác Xám đã dựa vào lòng bản các điệu hát mà sáng tạo ra lời mới hòa nhịp với từng bước tiến của quê hương.

Ai về huyện Quảng Ninh, khi nhắc đến làng Thầy, làng Ca Huế, làng vui chơi, làng ca hát đều không quên nhắc tới Quảng Xá. Và như trong Hương Sử Ca của làng từng viết:

Làng xóm vui mưu cầu hạnh phúc
Cốt mai sau đông đúc cháu con
Đải già, nuôi trẻ tiếp dồn
Mong đường kế hậu tử tôn vẹn toàn.

Nguồn: Quảng Bình ẩn tích thời gian
Hội Di sản Văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình - 2008

Các tin khác